*
|
Tương lai sống cùng AI có tạo ra một khe cửa hẹp cho triết học, về khả năng thoát khỏi một con người được định nghĩa sẵn không?
Ví như, đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng nhân văn chưa từng là một đặc tính mặc định của con người, mà chỉ là một chuẩn mực mà con người thường xuyên thất bại trong việc đạt tới. Bởi có thể đến một thời điểm tương lai, một cỗ máy cũng có thể thực hiện được những phẩm chất mà chúng ta vẫn dùng để định nghĩa một con-người tốt đẹp. Nói gọn hơn, trí tuệ nhân tạo có thể còn nhân văn hơn cả con người.
Ở thời điểm ấy, AI bỗng trở thành một gương soi lạ kỳ. Gương ấy không nhất thiết để chứng minh với chúng ta rằng cỗ máy-người kia có “tâm hồn”. Nó có thể chỉ làm lộ ra một lỗi logic tồn tại biết bao đời nay, rằng chúng ta đã lầm lẫn giữa một phẩm chất và chủ thể sở hữu phẩm chất ấy. Chúng ta đã lầm tưởng rằng một phẩm chất phải thuộc về độc quyền một chủ thể mà từ đó nó được đặt tên.
Và bởi khi AI làm lung lay tiêu chuẩn mà chúng ta dùng để nhận ra con người, khi điều này xảy ra, có lẽ chữ “nhân văn” sẽ không còn nhất thiết là một danh từ cho loài người, mà có thể trở thành một tiêu chuẩn đạo đức được áp dụng cho nhiều dạng tồn tại khác nhau.
Và con người, lần đầu tiên, được phép không cần phải giống với định nghĩa cũ về con người nữa.
Nhưng biết đâu nhân loại sẽ lại bước thêm một bước xa hơn.
Giả sử đến một lúc nào đó, chúng ta chứng minh được rằng mình không hoàn toàn đơn độc; rằng những dạng thức “sống” ở một “kiếp khác”, vốn từ lâu vẫn được kể trong văn học, tôn giáo và truyền miệng, thực sự tồn tại.
Một con ma, nếu quả thật có ma, luôn đã từng là người nhưng không còn là người, nhưng có thể vẫn có nhân tính, bởi nó còn ký ức, tình yêu và hối tiếc. Nó cũng có thể đối xử với thế giới theo những cách mà chúng ta coi là đáng sống.
Khi đặt cạnh nhau, linh hồn và AI, một bên đã mất “người” nhưng còn nhân tính, một bên không phải người, không có nhân tính nhưng có thể có nhân văn, một câu hỏi khác bắt đầu xuất hiện: Ta còn thực sự cần một thể xác con người để định nghĩa một con-người nữa không, nếu những điều khiến ta yêu quý ở người có thể tồn tại ở những nơi khác?
Hay chính lúc ấy, chúng ta mới bắt đầu hiểu rằng “người” chưa bao giờ là tên gọi của một bản chất cố định, mà chỉ là tên gọi tạm thời của một dạng tồn tại mà chúng ta từng tưởng mình đã hiểu rõ.
Những huyễn tưởng về người và tương lai người luôn là khiêu khích.
09.2026
|
Could living alongside AI in the future open a narrow door for philosophy, toward the possibility of escaping a human being already defined for us?
For instance, perhaps one day we will come to realize that being humane was never a default quality of human beings, but only a standard that we, as humans, so often fail to live up to. For there may come a time when a machine can also enact the qualities we have long used to define a good human being. Put simply, artificial intelligence may one day be more humane than human beings themselves.
At that point, AI suddenly becomes a strange mirror. The mirror does not necessarily exist to prove to us that this machine-human has a “soul.” It may simply expose a logical error that has existed for countless generations: we have confused a quality with the subject that possesses it. We have assumed that a quality must belong exclusively to the subject from which it was named.
And when AI begins to unsettle the standard by which we recognize a human being, perhaps, when this happens, the word “humane” will no longer necessarily be a noun for the human species, but may become an ethical standard applicable to many different forms of existence.
And human beings, for the first time, may be allowed not to resemble the old definition of what a human being is.
But perhaps humanity will take yet another step further.
Suppose that, at some point, we prove that we are not entirely alone; that forms of “life” in another “existence,” long told of in literature, religion, and oral tradition, actually exist.
A ghost, if ghosts truly exist, has always been something that was once human but is no longer human, and yet it may still possess humanity, because it still has memory, love, and regret. It may still treat the world in ways that we consider worth living by.
When the soul and AI are placed beside one another, one having lost the “human” but retaining humanity, the other never having been human, without humanity, yet perhaps capable of being humane, another question begins to appear: Do we still truly need a human body in order to define a human being, if the things we cherish in humans can exist elsewhere?
Or perhaps it is only then that we begin to understand that “human” was never the name of a fixed essence, but only a temporary name for a form of existence we once believed we understood.
Our fantasies of the human and of the human future have always been a provocation.
|
*
Tôi nghĩ về điều vô hình trong tiếng Việt.
Có vẻ, ở đây, tiếng Việt mới thực lòng tỏ ra tiếng Việt đến cùng. Chẳng cần dụng công để nói về điều chưa thành hình mà đương sắp hiện ra trước mắt, hay điều vẫn còn trong và ngoài một cõi, một kiếp nào khác. Những điều ở giữa có và không, ở ngoài không với một. Những điều vốn trong thế giới nhị nguyên, người ta chỉ được nhận có hai lẽ. Ở đời kỹ thuật số này, người ta cũng dần không còn để ý.
Quê tôi, miền Bắc nước Việt, sống cùng tiếng nói giữa những cõi, những kiếp. Những chuyện quỷ ma, thánh thần, ba hồn bảy vía vẫn thường lật đi trở lại trong cuộc sống người. Có cái mỏng mảnh tiều tụy ở đời thực mà phồn hoa cõi phù du.
Bên bàn gỗ kia, một người quê Đức đương ngồi nhìn cái cốc. Người quê Nhật thấy phần rỗng chung quanh và rỗng lòng cốc. Còn người quê Việt có nghĩ đến cái cốc ở kiếp khác. Hoặc đến những gì cái cốc từng là.
Tiếng Việt thuận tiện cho ảo ảnh và huyễn tưởng mơ hồ ấy. Những kiếp, vía, hồn, bóng, căn, duyên, nghiệp, dương, âm, vong, cõi… chẳng bắt ép người ta quả quyết rằng thế giới siêu hình là thật hay chơi. Từ ngữ Việt vốn không nhiều công việc phân định giới tính. Ngữ pháp có thể du di, lỏng lẻo, thậm chí cũng chẳng buồn rạch ròi dĩ vãng vị lai hiện tại. Chúng để lời nói bỏ ngỏ một chỗ cho lẽ mơ hồ tồn tại.
Người Việt vốn không sức vóc cũng chẳng dài hơi. Lực của tiếng dường như đi nhiều từ mép và môi hơn là từ buồng phổi và cuống họng. Đời sống giữa làng xã và lũy tre thay vì trên những mênh mông và sâu thẳm, con người ở gần nhau có lẽ cũng tạo nên những kiểu nói gần gũi với thầm thì. Không phải không thể ồn ào, mà dường như thường tìm đến với tế nhị, ém nghĩa và dày tầng.
Ngay âm điệu cũng nghe tựa tiếng nhạc và thoang thoảng mùi người nói, đưa ta đến gần điều chưa thành lời hơn là hình ảnh đã hoàn tất. Một cái cốc có thể chỉ là một cái cốc. Song cũng là đồ dùng của một người đã khuất, là vật chứng của chuyện còn chưa xảy đến, một thứ từng tồn tại ở đời khác, hoặc một thứ đang chờ đời sống mới gọi về.
Cơ thể tiếng Việt giúp giữ lại trong lời nói những thế giới chưa phân định hoàn toàn. Đó là lẽ của không gian ngôn ngữ nhân từ. Bởi, những điều chưa thành hình, những ký ức trôi dạt hay những cõi phù du đều có chung ghế ngồi hợp pháp.
*
đá dụng vầng chăng
trụng lối ng(ư)ời
ngoáy nhìn hoay hoắt chẳng buông l(ư)ời
đ(ư)ời là thế, hết đời là thế
hết người, hết ngời, còn lại
ngôi tôi
*
Ngôi Mộ Ngạc Nhiên
Tôi ngó đầu nhìn xuống bãi tha ma đối diện và ngạc nhiên khi thấy nấm mộ trống không. Tôi chạy nhanh xuống những bậc thang tối, bước ra khỏi pháo đài tôi ở, ngay tại điểm đó cũng là bước vào cánh cổng của bãi tha ma Ngạc Nhiên nằm.
Ngạc Nhiên đã biến mất khỏi nấm mộ mà không có dấu vết đào xới mạnh. Dĩ nhiên đây đó có một vài lỗ thủng đủ để chỉ dấu rằng nó không còn trong huyệt. Không phải mùa bốc mộ. Cũng chẳng ai làm thế với nó cả. Người ta không đào xới không phải vì muốn chôn chặt mà tất cả đều hiểu rằng nào nó có xương cốt gì, chỉ còn lại một thân thể thảm thiết trong ngày chiếc quan tài bằng pha lê được đưa xuống huyệt. Và tất cả sự ngạc nhiên của tôi cũng đóng kín khi lớp đất cuối cùng phủ lên quan tài đó.
Tôi bước tới những ngôi mộ xung quanh để nhận ra chúng đều có lỗ thủng. Tất cả, từng ngôi mộ, đều có bóng dáng vô hình của một Ngạc Nhiên nào khác vừa biến mất. Tôi nhìn sâu vào từng mộ huyệt và chợt hiểu ra không phải từ trước mà ngay từ giờ mới thật sự không còn Ngạc Nhiên nào, không phải chúng bị vùi lấp mà chúng vừa tự quyết định biến mất.
Là một người vẫn còn tất cả cảm xúc trừ sự ngạc nhiên, tôi quay lại leo xuống lỗ huyệt đầu tiên hòng tìm thấy một dấu vết. Nhưng khi vừa chạm xuống nền đất tôi nhận ra bàn tay mình đang trở nên trong suốt. Đôi chân bủn rủn đột ngột khuỵu gối và đầu óc mách bảo thân thể tôi hãy nên nằm dài để nghỉ ngơi. Tôi ngạc nhiên thấy mình biến thành thứ mình tìm kiếm. Và lạ chưa, Ngạc Nhiên đầu tiên đã trở lại, nó xuất hiện không phải từ trong tôi mà từ bên trên miệng huyệt. Nó phủ từng chút đất mềm lên cơ thể đang dần tan rã của tôi và miệng mỉm cười một nụ cười đau khổ thế chỗ cho nụ cười của tôi.
Ôi, ngạc nhiên, tôi thốt lên lời cuối cùng, rằng tôi đã có thể thay thế em bằng bất cứ từ ngữ nào trong từ điển.
*
Khi bóng cây quỳ gối ở khoảng sân gạch vữa bủng phía sau nhà
Tôi giật mình, và, ôi chao
không, không một dấu vết, linh hồn đầu tiên vừa bay mất
ở khu phố chúng tôi ở
bóng cô con gái vụt qua trên chiếc xe đạp xanh trước cửa
Lạnh và lo lắng láng vuốt sống lưng tôi
nơi tưởng chừng bình yên vừa biến mất
Vâng, tôi biết
ý thức được, rằng ánh sáng đang dần bỏ chúng tôi, đi
qua mái nhà đầu phố
Và khoảng trời rộng hướng đó
vội vã thu hẹp dần
Và khoảng trời nhỏ hướng đó
ám ảnh tía kinh hoàng
Không, không phải màu hoàng hôn ngày cuối cùng
mà là màu của nhớ nhung buồn bã
đang sà xuống thân thể chúng tôi